ĐẤT ĐAI

Hợp đồng chuyển nhượng công chứng nhưng chưa sang tên sổ đỏ không? KIỆN ĐÒI LẠI ĐẤT

Đã lập hợp đồng chuyển nhượng có công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên sổ đỏ thì bên mua có quyền khởi kiện đòi lại đất không vì bên bán đã chuyển nhượng đất cho một người khác?

LUẬT NHÂN DÂN xin đưa ra một trường hợp thực tế của khách hàng

“”Thời điểm anh trai bạn mua đất vào năm 2010 nên căn cứ theo Điều 127 Luật Đất đai 2003 về Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

“1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

2. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp các bên chuyển nhượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, các bên tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ”.

Như vậy, khi lập hồ sơ năm 2010 với chủ đất thì hợp đồng này đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận sang tên chủ sở hữu. Và hợp đồng này của bạn đã có hiệu ực từ khi đó.

Mặc dù chủ đất đã chuyển nhượng đất cho bạn nhưng do mảnh đất này bạn vẫn chưa làm thủ tục sang tên nên đến thời điểm 2011 mảnh đất vẫn đang đứng tên chủ sở hữu là chủ đất. Do đó, chủ đất vẫn dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên họ để chuyển nhượng cho người khác. Bởi cũng theo quy định của Điều 127 thì chỉ cần lập hợp đồng mua bán đất và có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể bán được.

Ở đây, chủ đất đã vi phạm quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2005: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”.

Theo quy định này thì hợp đồng mua bán đất của bạn sẽ có hiệu lực và được thực hiện, còn hợp đồng mà chủ đất thực hiện với người sau vào năm 2011 sẽ bị tuyên vô hiệu và không được thực hiện. Do đó, bạn có thể làm ĐƠN KHỞI KIỆN ra Tòa án để yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng năm 2011 và làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho bạn.

Bài viết có liên quan:

================================================================

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *