LAO ĐỘNG

LUẬT LAO ĐỘNG LÀ GÌ?

Luật lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động thuê mướn có trả công lao động và những quan hệ xã hội khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.

I. ĐỐI TƯỢNG DIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG

Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là một hoặc một nhóm quan hệ cùng loại có cùng đặc điểm, tính chất được các quy phạm pháp luật của ngành luật đó điều chỉnh.

Đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động bao gồm quan hệ lao động và các quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.

LUẬT SƯ DĨ AN, BÌNH DƯƠNG

  1. Quan hệ lao động

– Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay tồn tại rất nhiều các quan hệ lao động nhưng Luật Lao động chỉ điều chỉnh quan hệ lao động làm công ăn lương trên cơ sở thuê mướn trả công sức lao động giữa người lao động với người sủ dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế.

  • Về bản chất đây là mối quan hệ giữa một bên là người lao động để thỏa mãn mục tiêu lợi nhuận với một bên là người lao động có nhu cầu việc làm để đảm bảo thu nhập trong quá trình sử dụng sức lao động này, tính ổn định hoàn toàn phụ thuộc vào các bên.
  • Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động này là việc giao kết hợp đồng giữa các bên. Người lao động cam kết làm việc cho người sử dụng lao động để được trả lương còn người sử dụng lao động là trả lương để duy trì quan hệ lao động và mục tiêu lợi nhuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên mà không có sự can thiệp của bên thứ 3.
  • Trong quan hệ lao động này khi xảy ra các xung đột về quyền, nghĩa vụ thì việc giải quyết các tranh chấp sẽ được thực hiện thông qua phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án theo thủ tục giải quyết tranh chấp lao động do Luật Lao động điều chỉnh.

– Các quan hệ lao động gần gũi với Luật Lao động Các quan hệ lao động gần gũi với Luật Lao động bao gồm quan hệ lao động giữa cán bộ, công chức với nhà nước trong bộ máy nhà nước và đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ lao động giữa xã viên và hợp tác xã trong hợp tác xã; Quan hệ lao động giữa người lao động và người thuê mướn lao động nhằm hoàn thành một công việc chỉ tính kết quả việc.

  • Quan hệ lao động giữa cán bộ, công chức với nhà nước trong bộ máy nhà nước và đơn vị hành chính sự nghiệp
  • Người lao động là công chức là những người lao động trong bộ máy nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vừa là người lao động làm công ăn lương vừa là người đại diện cho quyền lực Nhà nước nên phải tuân thủ kỷ luật, mệnh lệnh cấp trên, bảo vệ hình ảnh của cơ quan.
  • Cơ sở pháp lý xác định mối quan hệ giữa công chức với Nhà nước là quyết định tuyển dụng có tính chất hành chính chứ không phải là thỏa thuận giữa các bên trê cơ sở giao kết hợp đồng.
  • Trường hợp xảy ra xung đột về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ này là phải thực hiện thông qua con đường hành chính mang nặng tính chất mệnh lệnh, quyền lực của nhà nước thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính.
  • Quan hệ lao động giữa xã viên và hợp tác xã trong hợp tác xã.
  • Quan hệ này xã viên vừa là người lao động vừa là quản lý sở hữu tư liệu sản xuất trong hợp tác xã
  • Cơ sở pháp lý xác lập quan hệ này là việc xác lập kết nạp của xã viên vào hợp tác xã chứ không phải bằng hình thức tuyển dụng theo quy định của nhà nước hay theo thỏa thuận giao kết hợp đồng. Nên việc xác lập thực hiện quan hệ đó là kết nạp, khen thưởng, quản lý, điều hành đều do trực tiếp hợp tác xã quyết định theo điều lệ của hợp tác xã và quy định của pháp luật hợp tác xã.
  • Trường hợp xảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể trong hợp tác xã sẽ được giải quyết trong nội bộ hợp tác xã hoặc thông qua các cơ quan tài phán kinh tế,theo thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh.
  • Quan hệ lao động giữa người lao động và người thuê mướn lao động nhằm hoàn thành một công việc chỉ tính kết quả công việc.
  • Đây là quan hệ lao động người thuê mướn chỉ tính đến kết quả công việc mà không quan tâm quá trình tạo ra kết quả đó, và người lao động được trả công khi thực hiện công việc đó theo sản phẩm hay theo hình thức công nhận
  • Cơ sở pháp lý để xác định qua hệ đó là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thông qua việc giao kết hợp đồng dân sự và điều chỉnh bởi pháp luật dân sự.
  • Trong quan hệ pháp luật này khi xảy ra xung đột thì việc giải quyết tranh chấp trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự do luật dân sự điều chỉnh.

Bài viết có liên quan

================================================================

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *