DÂN SỰ ĐẤT ĐAI

Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao dịch về quyền sử dụng đất.

Không có sở hữu tư nhân đối với đất đai. Từ trước khi Hiến Pháp năm 1980 có hiệu lực, ở Việt Nam có sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân về đất đai.

Năm 1980, Việt Nam đã ban hành hiến pháp mới và xác lập một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai là đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hình thức ở hữu này được duy trì trong Hiến Pháp 1992 theo đó ” đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ… đều thuộc sở hữu toàn dân. Đến BLDS 2005 và đến nay đất đai không thể thuộc sở hữu tư nhân.

Ghi nhận quyền sử dụng đất đối với tư nhân.

Nếu cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác không thể là chủ sở hữu đất đai thì, ở Việt Nam, các chủ thể này có thể là chủ sử dụng đất; họ có thể có quyền sử dụng đất. Cụ thể, ” quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất” hay ” do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

Quyền sử dụng đất là một tài sản.

Theo BLDS 2015, Điều 105. Tài sản, “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.” và ” quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Bên cạnh đó, Quyền tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự quy định ” quyền sử dụng đất được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Như vậy bản thân quyền sử dụng đất là một tài sản và, khi được ghi nhận là chủ sủ dụng hợp pháp, “người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định”.

Tranh chấp đất đai

Kỳ 2 : Mở rộng quyền của người sử dụng đất.

3 Replies to “Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao dịch về quyền sử dụng đất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *